Quảng Ninh: Sản phụ nặng gần 100kg được đỡ đẻ thành công

Quảng Ninh: Sản phụ nặng gần 100kg được đỡ đẻ thành công

Sản phụ 29 tuổi, nặng 98 kg, mang thai ở tuần 35 thì chuyển dạ sinh non, phải mổ cấp cứu vì hội chứng nhau tiền đạo chảy máu.

Sản phụ nặng gần 100kg này đã mang thai lần hai, chỉ số khối cơ thể BMI là 36,9, được đưa đến cấp cứu tại khoa Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí. Bác sĩ chẩn đoán chuyển dạ, nhau tiền đạo chảy máu, ngôi ngang, thai phụ mắc tiểu đường thai kỳ với chỉ số đường huyết cao gấp đôi người bình thường, béo phì.

Các bác sĩ đã phẫu thuật mổ bắt con, thai nhi nặng 2,4 kg, đồng thời điều trị kết hợp nội tiết cho sản phụ. Hậu phẫu, sức khoẻ của mẹ và con đã ổn định.

Sản phụ gần 100 kg chuyển dạ ở tuần 35 - Ảnh 1
Bác sĩ kiểm tra sức khỏe hậu phẫu cho thai phụ 29 tuổi. Ảnh: Bệnh viện cung cấp.

Tuy nhiên đây không phải là trường hợp sản phụ cá biệt được điều trị tại viện. Bác sĩ Vũ Thị Dung, Phó trưởng khoa Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí cho biết, đây là một trong 28 trường hợp sản phụ bị thừa cân, béo phì mà bệnh viện tiếp nhận từ đầu năm đến nay.

Trường hợp nặng cân nhất là thai phụ 31 tuổi, nặng 152 kg, chỉ số BMI lên tới 56,6. Thai phụ này được chẩn đoán tiền sản giật, nguy cơ tử vong cao trong quá trình phẫu thuật bắt con. Ở tuần thai 40, thai phụ có chỉ định sinh mổ, do cân nậng quá cao nên bác sĩ phải cân nhắc rất kỹ liều lượng thuốc gây tê. May mắn, ca mổ bắt con thuận lợi, bé con chào đời nặng 3,1 kg.

Bác sĩ Dung nhận định, tỷ lệ phụ nữ thừa cân, béo phì khi mang thai ngày càng nhiều. Thừa cân là khi chỉ số khối cơ thể (BMI) nằm trong khoảng 25-29,9, còn béo phì là khi BMI từ 30 trở lên. 

Nguyên nhân dẫn đến béo phì ở sản phụ là do cung cấp quá nhiều chất dinh dưỡng trong quá trình mang thai hoặc trước khi mang thai đã bị thừa cân béo phì.

Bác sĩ Dung cho biết, béo phì khi mang thai là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng sảy thai, dị tật bẩm sinh, sinh non, tiền sản giật, tiểu đường thai kỳ. Trong một số trường hợp, người mẹ có thể ngừng thở khi ngủ.

Sản phụ béo phì sẽ phải trải qua quá trình sinh nở phức tạp, khó sinh thường do sự giãn nở của tử cung không đáp ứng kích thước thai nhi hoặc lượng mỡ quá lớn gây khó khăn cho việc xác định vị trí đốt sống để gây tê.

Nếu thai phụ mổ đẻ, nguy cơ bị nhiễm trùng vết mổ, nguy cơ tắc mạch cũng cao gấp đôi so với người cân nặng bình thường. 

Không chỉ gây hại cho mẹ, béo phì ở mẹ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thai nhi. Đứa trẻ sinh ra dễ bị dị tật bẩm sinh ở tim hay dị tật ống thần kinh do mẹ thường mắc các bệnh lý chuyển hóa trong thai kỳ. Ngoài ra, trẻ dễ bị chấn thương khi sinh mổ do quá lớn.

Phụ nữ béo phì cần giảm cân trước khi mang thai, đảm bảo BMI dưới 27, bằng cách ăn kiêng, tập luyện. Nếu lựa chọn phương pháp phẫu thuật giảm béo, cần tránh mang thai trong vòng 1-2 năm.

Thai phụ thừa cân, béo phì nên thường xuyên kiểm tra chỉ số đường huyết, chức năng gan, thận, huyết áp và xét nghiệm sàng lọc thai nhi trong ba tháng đầu thai kỳ. Trong ba tháng giữa, từ tuần thai 26 đến 28, cần xét nghiệm đường huyết và tiến hành nghiệm pháp dung nạp đường huyết, nhằm giảm nguy cơ tiền sản giật và đái đường thai kỳ. Trong hai tháng cuối, thai phụ có nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đẻ khó, đẻ non... nên cần theo dõi sát sao.